Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.
Chống chỉ định
Thuốc Heradrea 500 chống chỉ định trong các trường hợp sau:
- Hydroxyurea chống chỉ định ở những bệnh nhân quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
- Giảm bạch cầu rõ rệt (< 2,5 x 10/L), giảm tiểu cầu (<100 x 10/L), hoặc thiếu máu nặng.
Thận trọng khi sử dụng
Cần rất thận trọng khi dùng thuốc cho người bệnh trong các trường hợp sau:
Tùy xương
Tình trạng đầy đủ của máu, bao gồm kiểm tra tủy xương, nếu được chỉ định, cũng như chức năng thận và chức năng gan nên được xác định trước và lặp đi lặp lại trong quá trình điều trị. Nếu chức năng tủy xương bị suy giảm, không nên bắt đầu điều trị với hydroxyurea. Nên tiến hành xác định nồng độ huyết sắc tố, tổng số bạch cầu và số lượng tiểu cầu ít nhất một lần một tuần trong suốt quá trình điều trị bằng hydroxyurea.
Nếu bạch cầu giảm xuống dưới 2,5 x 10/L hoặc số lượng tiểu cầu xuống < 100 x 10/L, nên gián đoạn điều trị. Nên kiểm tra lại số lượng sau 3 ngày và tiếp tục điều trị khi chúng tăng lên đáng kể so với bình thường.
Hydroxyurea có thể gây ức chế tủy xương, giảm bạch cầu nói chung là biểu hiện đầu tiên và phổ biến nhất của nó. Giảm tiểu cầu và thiếu máu ít xảy ra hơn và hiếm khi gặp mà không có giảm bạch cầu trước đó. Suy tủy xương có nhiều khả năng gặp phải ở những bệnh nhân đã từng xạ trị hoặc dùng thuốc hóa trị ung thư gây độc tế bào, nên sử dụng thận trọng hydroxyurea ở những bệnh nhân này. Tủy xương hồi phục nhanh khi gián đoạn điều trị hydroxyurea.
Thiếu máu
Thiếu máu nặng phải được điều chỉnh bằng cách thay toàn bộ máu trước khi bắt đầu liệu pháp hydroxyurea. Nếu thiếu máu xảy ra trong quá trình điều trị, điều chỉnh mà không gián đoạn liệu pháp hydroxyurea. Hồng cầu bất thường, nguyên hồng cầu khổng lồ tự giới hạn thường được thấy sớm trong quá trình điều trị với hydroxyurea. Sự thay đổi hình thái giống với thiếu máu ác tính, nhưng không liên quan đến thiếu vitamin B12 hoặc thiếu acid folic. Chứng đại hồng cầu có thể che dấu sự phát triển ngẫu nhiên của thiếu acid folic, nên xét nghiệm thường xuyên acid folic huyết thanh. Hydroxyurea cũng có thể trì hoãn sự thanh thải sắt trong huyết tương và làm giảm tốc độ sử dụng sắt của hồng cầu nhưng thuốc dường như không làm thay đổi thời gian sống của hồng cầu.
Xạ trị
Bệnh nhân đã từng được xạ trị có thể bị ban đỏ nặng hơn sau xạ trị khi dùng hydroxyurea.
Thận
Nên dùng hydroxyurea thận trọng ở những bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận rõ rệt.
HIV
Hydroxyurea không được phép sử dụng kết hợp với các thuốc kháng retrovirus điều trị HIV và thuốc có thể gây ra thất bại điều trị và gây độc (trong một số trường hợp gây tử vong) ở bệnh nhân HIV.
Ung thư
Ở những bệnh nhân điều trị lâu dài với hydroxyurea cho các rối loạn tăng sinh tủy xương như tăng hồng cầu, bệnh bạch cầu thứ phát đã được báo cáo. Không rõ liệu bệnh bạch cầu là tác dụng thứ phát của hydroxyurea hay liên quan đến bệnh tiềm tàng của bệnh nhân. Ung thư da đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng hydroxyurea lâu dài. Nên khuyên bệnh nhân bảo vệ da tránh tiếp xúc ánh nắng mặt trời. Ngoài ra, bệnh nhân nên tiến hành tự kiểm tra da trong quá trình điều trị và sau khi ngừng điều trị hydroxyurea và sàng lọc những bệnh ác tính thứ phát trong các lần tái khám định kỳ.
Độc tính viêm mạch máu
Độc tính viêm mạch máu ở da bao gồm loét mạch máu và hoại thư đã xảy ra ở những bệnh nhân bị rối loạn tăng sinh tủy xương khi điều trị bằng hydroxyurea. Nguy cơ nhiễm độc mạch máu tăng lên ở những bệnh nhân điều trị bằng interferon trước đó hoặc đang kết hợp. Loét mạch máu rải rác ở ngón tay, ngón chân và biểu hiện lâm sàng tiến triển của suy mạch máu ngoại biên dẫn đến thiếu máu ở ngón tay, ngón chân hoặc hoại thư khác biệt rõ rệt so với loét da điển hình thường mô tả với hydroxyurea. Do các kết quả lâm sàng có khả năng nghiêm trọng đối với các vết loét mạch máu ở da được báo cáo ở những bệnh nhân bị tăng sinh tủy xương, nên ngừng sử dụng hydroxyurea nếu loét mạch máu ở da phát triển và nên bắt đầu dùng thuốc thay thế làm giảm tế bào.
Acid uric
Khả năng tăng acid uric huyết thanh, dẫn đến xuất hiện bệnh gút hoặc tệ nhất là bệnh thận do acid uric, nên được lưu ý với những bệnh nhân điều trị bằng hydroxyurea, đặc biệt là khi sử dụng với các tác nhân gây độc tế bào khác. Do đó, điều quan trọng là phải theo dõi nồng độ acid uric thường xuyên và duy trì uống nhiều nước trong quá trình điều trị.
Tiêm phòng
Sử dụng kết hợp hydroxyurea với vắc xin virus sống có thể làm tăng sự nhân lên của virus vắc xin và/hoặc có thể làm tăng một số phản ứng bất lợi của virus vắc xin vì cơ chế phòng vệ bình thường có thể bị hydroxyurea ức chế. Tiêm phòng vắc xin sống ở bệnh nhân dùng hydroxyurea có thể dẫn đến nhiễm trùng nặng. Phản ứng kháng thể của bệnh nhân với vắc xin có thể giảm. Nên tránh sử dụng vắc xin sống trong quá trình điều trị và trong ít nhất 6 tháng sau khi kết thúc điều trị và tư vấn lời khuyên từ bác sĩ.
Tá dược
Sản phẩm này có chứa paraben, có thể gây phản ứng dị ứng (có thể xảy ra chậm).
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Hydroxyurea có thể gây buồn ngủ. Bệnh nhân dùng hydroxyurea không nên lái xe hoặc vận hành máy móc trừ khi thuốc được chứng minh không ảnh hưởng đến năng lực thể chất hoặc tinh thần.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú
Các loại thuốc ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp DNA, như hydroxyurea, có thể là tác nhân gây đột biến mạnh. Bác sĩ nên xem xét cẩn thận khả năng này trước khi dùng hydroxyurea cho bệnh nhân nam hoặc nữ có thể dự định có thai. Vì hydroxyurea là một tác nhân gây độc tế bào, thuốc đã gây quái thai ở một số loài động vật.
Ở chuột và chó, liều cao hydroxyurea làm giảm sản xuất tinh trùng.
Hydroxyurea bài tiết qua sữa mẹ. Do khả năng gây ra các phản ứng bất lợi nghiêm trọng cho trẻ bú mẹ của hydroxyurea, nên đưa ra quyết định ngừng cho con bú hoặc ngừng sử dụng hydroxyurea, tính đến tầm quan trọng của thuốc đối với người mẹ.
Hydroxyurea có thể gây hại cho thai nhi khi dùng cho phụ nữ có thai. Hydroxyurea thường không nên dùng cho bệnh nhân đang có thai, hoặc cho các bà mẹ đang cho con bú, trừ khi lợi ích tiềm năng vượt xa các mối nguy hiểm có thể.
Bệnh nhân nữ có khả năng sinh sản nên được tư vấn về sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị và ít nhất 6 tháng sau khi điều trị.
Không có tinh trùng hoặc giảm tinh trùng, đôi khi có thể phục hồi, đã quan sát thấy ở nam giới. Nên thông báo cho bệnh nhân nam nên về khả năng bảo tồn tinh trùng trước khi bắt đầu điều trị. Hydroxyurea có thể gây độc gen.
Nam giới đang điều trị nên sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong và ít nhất 1 năm sau khi điều trị.
Tương tác thuốc
Hoạt động ức chế tủy xương có thể được tăng cường bằng liệu pháp xạ trị hoặc độc tế bào trước đó hoặc kết hợp. Viêm tụy gây tử vong và không gây tử vong đã xảy ra ở những bệnh nhân nhiễm HIV trong khi điều trị bằng hydroxyurea và didanosine, có hoặc không có stavudine. Nhiễm độc gan và suy gan dẫn đến tử vong đã được báo cáo trong quá trình theo dõi thuốc sau khi lưu hành ở bệnh nhân nhiễm HIV điều trị bằng hydroxyurea và các thuốc kháng retrovirus khác. Các biến cố ở gan gây tử vong được báo cáo thường xuyên nhất ở những bệnh nhân điều trị kết hợp hydroxyurea, didanosine và stavudine. Sự kết hợp này nên tránh. Bệnh lý thần kinh ngoại biên, nghiêm trọng trong một số trường hợp, đã được báo cáo ở những bệnh nhân nhiễm HIV dùng hydroxyurea kết hợp với các thuốc kháng retrovirus, bao gồm didanosine, có hoặc không có stavudine.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hydroxyurea ảnh hưởng phân tích các enzym (urease, uricase và lactic dehydrogenase) dùng để xác định urea, acid uric và acid lactic, đưa ra kết quả sai lệch lớn ở những bệnh nhân điều trị với hydroxyurea.
Tiêm phòng
Tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng hoặc gây tử vong khi sử dụng đồng thời với vắc xin sống. Không khuyến cáo dùng vắc xin sống ở những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch.
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.