Công dụng của Thuốc Mifros 300mg
Chỉ định
Thuốc Mifros chỉ định điều trị trong các trường hợp:
- Bệnh cystin niệu.
- Bệnh viêm khớp dạng thấp mà người bệnh giảm đáp ứng với thuốc điều trị thông thường, nhưng không có giá trị trong điều trị viêm cột sống dính khớp.
- Điều trị nhiễm độc kim loại nặng (đồng, thủy ngân, chì).
- Viêm gan mạn tính tiến triển.
Dược lực học
Penicilamin là tác nhân tạo phức với kim loại dùng điều trị bệnh Wilson, một bệnh di truyền gây lắng đọng đông quá nhiều trong các mô cơ thể. In vitro, một nguyên tử đồng gắn với 2 phân tử penicilamin, như vậy 1g penicilamin có thể dẫn đến bài tiết 200mg đồng. Tuy nhiên, thực tế lượng đồng được bài tiết chỉ khoảng 1% số lượng trên.
Penicilamin cũng làm giảm sự bài tiết cystin quá mức trong bệnh cystin niệu. Có sự trao đổi disulfid giữa penicilamin và cystin thành lập dạng penicilamin-cystein disulfid, một chất tan hơn cystin và được bài tiết dễ dàng. Penicilamin tương tác với sự hình thành liên kết giữa các phân tử tropocollagen và chia cắt chúng khi vừa hình thành.
Chưa rõ cơ chế tác dụng của penicilamin trong điều trị bệnh thấp dạng khớp mặc dù thuốc dường như ngăn chặn hoạt động của bệnh. Không giống như tác nhân ức chế miễn dịch độc tế bào, penicilamin làm giảm rõ rệt yếu tố thấp IgM nhưng không làm giảm đáng kể nồng độ tuyệt đối globulin miễn dịch trong huyết thanh. Cũng không giống như tác nhân ức chế miễn dịch độc tế bào, penicilamin làm giảm hoạt động tế bào lympho T nhưng không giảm hoạt động tế bào lympho B in vitro.
In vitro, penicilamin phân ly đại thực bào (yếu tố thấp) mặc dù mối liên quan của tác dụng này với hiệu quả điều trị viêm khớp dạng thấp chưa rõ. Trong viêm khớp dạng thấp, có thể không thấy đáp ứng điều trị với thuốc trong 2 hoặc 3 tháng đầu điều trị. Tuy nhiên ở những bệnh nhân có đáp ứng, những bằng chứng giảm triệu chứng đầu tiên như đau, nhạy cảm, sưng thường thấy rõ ràng trong vòng 3 tháng. Thời gian điều trị tối ưu chưa được xác định. Nếu bệnh thuyên giảm, có thể kéo dài hàng tháng đến hàng năm, nhưng thông thường thì phải điều trị liên tục.
Dược động học
Penicilamin được hấp thu nhanh chóng nhưng không hoàn toàn (40 đến 70%) từ đường tiêu hóa, khác biệt nhiều giữa các cá thể. Thức ăn, thuốc kháng acid và sắt làm giảm hấp thu của thuốc. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 1 đến 3 giờ, khoảng 1 đến 2 mg/l sau khi uống liều 250 mg.
Thuốc tồn tại trong huyết tương dạng penicilamin tự do, penicilamin disulfid, và cystein – penicilamin disulfid. Khi quá trình điều trị lâu dài chấm dứt, pha thải trừ chậm kéo dài 4 đến 6 ngày.
Hơn 80% penicilamin trong huyết tương gắn kết với protein, đặc biệt là albumin và ceruloplasmin. Thuốc cũng gắn với hồng cầu và đại thực bào.
Một tỷ lệ nhỏ liều dùng được chuyển hóa qua gan thành S-methyl-D-penicilamin. Thuốc được bài tiết chủ yếu qua thận dưới dạng disulfid.



Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.